Tổng số: 2 kết quả
  Địa chỉ: phường Trường Sơn, thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hoá (nay là phường Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hoá), Sầm Sơn, Thanh Hoá
Có giá trị và sức hấp dẫn về tài nguyên du lịch, là di tích Quốc gia năm 1962, sản phẩm du lịch khai thác chủ yếu là du lịch văn hóa tâm linh

Khi đến Đền Độc Cước, du khách lên qua 50 bậc đá, được soi xét mình trước cổng "Tứ trụ kính thiên" (Tức tứ trụ tạo tam môn) như những trục vũ trụ đem sinh khí từ tầng trên truyền xuống trần gian. Trên đỉnh của tứ trụ có trạm trổ hình tượng của chim phượng và thần nghê, vì chim phượng đem lời cầu khấn của bách gia trăm họ cùng khói của lư hương chuyển đến với thần thánh. Còn thần Nghê có tư thế nhìn xuống trần gian để soi xét tất cả những hành vi, ứng xử, tâm đức của chúng ta trước khi vào cửa đền. Để kiểm soát linh hồn, bên phải của du khách là sân khấu đền Độc Cước. Được xây dựng từ cuối năm 2010 là nơi tổ chức các kỳ lễ hội trọng đại trong năm trên địa bàn thị xã như: Lễ hội cầu phúc được tổ chức vào 16 tháng hai, lễ hội bánh trưng bánh giày được tổ chức vào 12 tháng 5 hàng năm.....

Sau khi bước qua cổng tứ trụ được kiểm soát linh hồn, soi xét tâm đức chúng ta phải bước qua 50 bậc đá từ thấp lên cao rộng khoảng 2m, hai bên xây tường đá thấp để lên đến cổng tam quan của ngôi đền. Qua cổng tam quan chính là lúc du khách đang đứng trên đỉnh hòn cổ giải là hòn thứ 5 trong hệ thống phân loại dân gian của dãy núi Trường Lệ, nơi thờ vị thần một chân, bán thân được phong là "Độc Cước sơn tiêu" hay "Độc Cước chân nhân thượng đẳng thần" . Là vị thần thành hoàng đã đem sức mạnh và phép màu để bảo vệ cho nhân dân Sầm Sơn luôn được thuận buồm xuôi gió, quốc thái dân an.

Không gian Đền Độc Cước được chia làm ba khu vực: phía nam bên tả là phủ thờ mẫu, phía bắc bên hữu là tháp nghinh phong và khu vực trung tâm từ tam quan vào chính là nơi thờ thần Độc Cước.

Ngôi đền lúc đầu được làm bằng tre mái lợp tranh thời nhà trần. Đến đời Hồng Đức (Lê Thánh Tông) sau một trận bão lụt lớn bỗng xuất hiện một cây gỗ chò rất to từ ngoài biển trôi dạt vào hòn cổ giải. Dân làng cho là thần đưa gỗ về làm đền bèn bảo nhau xẻ gỗ, thuê thợ dựng đền. Trải qua rất nhiều lần trùng tu nhưng điều kỳ lạ là ở nơi đầu sóng ngọn gió, trải qua bao phen giặc giã, chiến tranh nhưng ngôi đền vẫn được giữ nguyên. Đây cũng là ngôi đền thuộc số ít còn sót lại ở xứ thanh chưa kịp tháo dỡ trong cuộc cách mạng văn hóa ở nước ta. Ngày 27/4/1962 Đền Độc Cước đã được Bộ Văn hóa - Thông tin xếp hạng là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia vào sổ danh mục di tích lịch sử văn hóa số 47. Ngày 14/2/1990 Bộ trưởng Trần Văn Phác ký công nhận khu danh thắng Sầm Sơn gồm có: Đền Độc Cước, Hòn Trống Mái, đền Tô Hiến Thành, đền Cô Tiên là di tích quốc gia.

Trải qua thời gian và biến cố lịch sử, đền Độc Cước nhiều khi xuống cấp nghiêm trọng nên đến năm 1996 gia đình và bản hội bà Thiều Thị Khoa, phường Đông Sơn, thành phố Thanh Hóa đã cung tiến toàn bộ cho xây dựng lại ngôi phủ và tam quan cửa chính của đền. Đến tháng 8 năm 2006, UBND thị xã Sầm Sơn chính thức khởi công trùng tu toàn diện lại khu di tích Đền Độc Cước. Đến tháng 4 năm 2007 thì hoàn thành do Công ty cổ phần phục chế các công trình văn hóa (thuộc Sở văn hóa - Thông tin Hà Nội) làm đơn vị thi công. Là công trình chào mừng kỷ niệm 100 năm du lịch Sầm Sơn

Ngôi Đền được xây dựng theo một thể thống nhất nhà thấp, cột gỗ to, lớp ngói cũ kiến trúc hình chữ đinh (dân gian gọi là kiến trúc hình chuôi vồ). Là kiểu kiến trúc cổ gồm có hậu cung tức ngôi nhà đặt bàn thờ thần Độc Cước nối thẳng với trung đường và tiền đường ở phía trước, quay mặt theo hướng tây nam, theo quan niệm của người xưa, hướng tây là hướng vững chãi nhất, hợp với tính âm dương, chắn được gió bão từ biển khơi thổi vào. Tượng thần Độc Cước cũng được đặt theo hướng của đền, cầu mong thần thánh yên vị để đem sức mạnh thần linh ban phát cho dân lành.

Thần Độc Cước là Thành hoàng của cả vùng đất Sầm Sơn. Việc thờ Thành hoàng làng và các vị thần linh là tín ngưỡng tâm linh có từ rất xa xưa của cư dân nơi đây, phản ánh quan niệm của người Việt cổ "Vạn vật hữu linh": Thờ đá, thờ gốc cây, ông bình vôi rồi đến thiên thần, nhân thần...

Xuất phát từ quan niệm vũ trụ phân đôi, trong đó có trời và đất, núi và biển, nước và lửa, với phương thức sản xuất và đời sống dựa vào môi trường tự nhiên núi và biển. Chính vì điều kiện sống và phương thức sản xuất của cư dân Sầm Sơn đã tác động và hình thành trong tư duy, tín ngưỡng mang đậm sắc thái văn hóa núi và biển. Người dân Sầm Sơn xa xưa đã xây dựng hệ thức hai nửa dân gian và sau này được các tôn giáo xây dựng nên hình tượng thần Độc Cước. Vị thần mang hình mặt trăng gắn với biển và thủy triều, một nửa là sơn thần, thần núi. Tư duy ấy lúc tách ra làm hai nửa, một nửa theo những bè mảng và dân chài đánh cá ngoài biển, một nửa ở lại đất liền bảo vệ dân làng, có lúc chập lại làm một thành hình Độc Cước. Đó cũng chính là phương thức sản xuất chi phối cư dân nơi đây: nửa đánh cá, nửa làm nông nghiệp mới tồn tại và trụ được trong cuộc sống khắc nghiệt nơi này.

Trên đất nước ta, thần Độc Cước được thờ ở đền chùa suốt từ Quảng Ninh đến Nghệ Tĩnh, nhất là trên hải đảo và các vùng ven biển ven sông, hoặc trên các trục đường quốc lộ giao thông chính ở đồng bằng Bắc bộ. Theo thống kê sơ bộ thì có khoảng trên 300 điểm thờ. Nhưng Đền Độc Cước ở Sầm Sơn chính là nơi xuất phát tín ngưỡng đầu tiên, và cũng là điểm thờ Độc Cước đầu tiên trong cả nước (theo Hoàng Tuấn Phổ, Hoàng Minh Tường), với niềm tin và ước mong thánh Độc Cước chở che, phù hộ cho cuộc sống bình yên, no đủ, cầu mong cho sự đi xa của những con thuyền đánh cá.

Đền Độc Cước Sầm Sơn đã nổi tiếng trong lịch sử từ rất lâu đời, nên tượng thờ các vị thần bên trong cũng thể hiện khá rõ nét: Đôi tướng canh bằng đá dưới dạng Võ tướng nghiêm chỉnh đại đao đứng chầu hầu. Ở sát cửa điện phía trong nhà tiền đường có đôi phỗng quỳ lớn được tạc bằng đá khối từ cuối thế kỷ XVIII, với tư thế mắt mở to nhìn thẳng, đâm toét miệng cười vẻ lạc quan yêu đời. Đó là những pho tượng ngộ nghĩnh có giá trị nghệ thuật cao nhưng đồng thời nó cũng biểu hiện những mặt của lịch sử vào đầu thế kỷ XVIII xã hội đầy những nhũng nhiễu, hệ tư tưởng nho giáo khủng hoảng đến trầm trọng, con người không thể trông cậy vào tư tưởng chính thống được nữa và họ đặt lòng tin vào nhiều hơn ở cửa đền, cửa phủ.

Trong hậu cung, hình tượng, nhân cách thần Độc Cước được thể hiện dưới dạng các tượng nhỏ cao khoảng 30cm với hình thức bán thân bổ dọc, mặc áo võ tướng, mặt nhẵn mạnh những nét gồ gề để tạo sự hung dữ, nửa thân kia không có, được thay bằng mây cuộn. Bức tượng do giáo sư Trần Lâm Biền giới thiệu và đưa từ chùa Thiền Quang (Hà Nội) về vào năm 1989.

Đi về phía Bắc qua sân đền có một tòa phương đình hay còn gọi là tháp nghinh phong có diện tích 42,5 m2, được xây dựng vào năm Tự Đức thứ 17 (1863). Được kết cấu theo lối 2 tầng 8 mái mang đậm kiến trúc thời Nguyễn, trông xa xa như một tòa sen đang từ từ mở cánh bên bờ biển biếc bao la, 4 đầu đao của tầng dưới được đắp nổi bốn con rồng cách điệu, là con vật gắn với biển cả, làm chủ nguồn nước, thể hiện cách nhìn và tư duy nông nghiệp của cư dân Đông Nam Á. Gọi là tháp Nghinh Phong là bởi về mùa hè đứng trên môn lâu hóng gió mát rượi từ khơi xa thổi vào ngắm cảnh trời nước, núi mây vừa nghe tiếng sóng lao xao vỗ bờ và thấp thoáng những cánh buồm nâu lướt trên mặt nước. Đây là một kiểu kiến trúc đẹp của người việt có từ thế kỷ XV tồn tại cho đến thời gian gần đây. Nó được biểu hiện về mặt vũ trụ quan của người Việt có sự tác động của nho giáo.

Đi về phía Nam là phủ mẫu thờ "Tam Tòa Thánh Mẫu".  Phủ này trước kia hoang phế, đổ nát, để đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng tâm linh của nhân dân địa phương từ cuối năm 1992 mới được dựng lại như ngày nay.

Trong khu vực khuôn viên của đền còn có nhiều cây cối tạo cho khu đền bốn mùa xanh sắc cỏ cây hoa lá, nhưng đến nay còn lại cây bàng là cổ nhất (trên 100 năm tuổi) khẳng định cho sự trường tồn và sức vươn mãnh liệt của người dân Sầm Sơn. Cùng với đó là cây dứa dại cũng tồn tại khá lâu đời tô vẽ cho nghôi đền vừa thâm nghiêm, vừa tràn đầy sức sống.